BỒI THƯỜNG OAN, SAI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Vấn đề “làm oan người vô tội”, “bỏ lọt tội phạm” và “minh oan trong tố tụng hình sự” đã và đang là mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình giải. Vậy pháp luật quy định Bồi thường oan sai như thế nào mới là hợp lý? Luật Loan Loan sẽ tư vấn cụ thể, chi tiết với bạn đọc về vấn đề này qua bài viết dưới đây. 

Oan và Sai là gì?

Trong những năm gần đây, Việt Nam xảy ra nhiều vụ án oan sai khiến nhiều người phải ngồi tù oan trong nhiều năm. Những vụ án oan sai lớn gây chấn động dư luận có thể kể đến: Vụ ông Nguyễn Thanh Chấn ngồi tù oan 10 năm; vụ án oan của ông Huỳnh Văn Nén; vụ án oan Hàn Đức Long…

Theo quy định của pháp luật, đối với những người chịu án oan, các đơn vị liên quan phải có trách nhiệm bồi thường cho những tổn hại về tinh thần và vật chất mà những người này phải chịu. 

Khái niệm “Oan” trong tố tụng hình sự (TTHS) gồm những nội dung sau: 

Thứ nhấtcông dân bị khởi tố, tạm giam, tạm giữ nhưng sau đó cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) ra quyết  định đình chỉ điều tra vụ án, trả tự do vì hết thời hạn tạm giam, tạm giữ mà không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, hoặc người đó chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc chứng minh được hành vi  của người đó không cấu thành tội phạm (CTTP). 

Thứ haicông dân đã bị truy tố ra Toà án để xét xử  nhưng Toà án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc bản án kết tội của Toà án cấp dưới bị Toà án cấp trên huỷ, tuyên bị cáo không có tội. 

Thứ bacông dân bị truy tố, xét xử, kết án theo một tội danh nặng hơn so  với  tội  danh  trên  thực tế đã phạm và bản án đã được Toà án cấp trên sửa theo hướng nhẹ hơn. Pháp luật các quốc  gia trên thế giới đều tiếp cận và ở một chừng mực nhất định quy định các nội dung “oan” trong TTHS.

Tại Trung Quốc, các trường hợp sau được coi là oan:

1) Người bị tình nghi phạm tội bị bắt giữ nhưng chưa có dấu hiệu thực tế hoặc chưa có những chứng cứ thực tế là phạm tội.

2) Người chưa thực sự phạm tội nhưng đã bị giam giữ.

3) Người đã chấp hành hình phạt mà Toà án đã tuyên nhưng sau đó được xét xử lại theo trình tự kiểm tra, giám sát xét xử là vô tội.

Theo Bộ luật Hình sự Cộng hoà Liên bang Nga, thì các trường hợp sau  được coi là oan:

1) Một người rõ ràng là không có tội nhưng đã bị người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự.

2) Một người bị tình nghi phạm tội hoặc bị tố cáo là đã thực hiện hành vi phạm tội bị kiểm sát viên hoặc người  tiến hành điều tra sơ bộ truy cứu trách nhiệm hình sự trái pháp luật.

3) Một người bị bắt giữ trái pháp luật.

Nhìn chung, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không đưa ra một khái niệm chung về “oan” trong TTHS, chỉ nêu các trường hợp cụ thể được coi là “oan”. Do vậy, căn cứ vào những trường hợp cụ thể,  “Oan” có thể tự hiểu cụ thể theo nghĩa thông thường là “bị quy tội không đúng, phải chịu sự trừng phạt một cách sai trái, vô lý”.

Theo từ điển tiếng Việt thì từ “sai’’ được hiểu là “không  phù hợp với cái  hoặc điều có thật, mà có khác đi”. Trong TTHS, việc giải quyết vụ án sai là trường hợp các CQTHTT  giải quyết vụ án được giao một cách không khách quan, trái với những quy định của pháp luật. “Oan” và “Sai” trong TTHS là hai hiện tượng hoàn toàn khác nhau, nhưng có mối quan hệ với nhau: Việc làm oan người vô tội luôn luôn là hệ quả của hành vi trái (sai) pháp luật, còn sai được hiểu là tính chất của hoạt động hoặc chất lượng giải quyết vụ án hình sự của CQTHTT.

Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp hành vi sai pháp luật của CQTHTT không dẫn đến việc làm oan người vô tội. Chẳng hạn: Trong quá trình điều tra, điều tra viên đã hỏi cung bị can không đúng quy định của luật TTHS (hỏi cung ban đêm…) hoặc do thiếu trách nhiệm trong việc đánh giá chứng cứ của vụ án, Thẩm phán đã áp dụng điều luật quy định tội phạm của Bộ luật hình sự không phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Những trường hợp sai này không thuộc nội hàm khái niệm oan.

Do vậy,  “oan” và “sai” không được đồng nhất với nhau. Ta không nên dùng cụm từ “oan sai” mà chỉ sử dụng cụm từ “oan, sai” hoặc oan, sai độc lập trong những tình huống thích hợp. Sự nhầm lẫn trên mặc dù chỉ là về mặt ngôn ngữ, nhưng trong khoa học pháp lý thì ngôn ngữ pháp lý phải được sử dụng một cách chính xác. Đặc biệt, CQTHTT và người tiến hành tố tụng không được phép đồng nhất hai khái niệm này với nhau, vì họ là những chủ thể tiêu biểu mang trong mình yếu tố văn hoá pháp lý của một quốc gia.

Bồi thường oan, sai trong tố tụng hình sự

Theo quy định của pháp luật, đối với những người chịu án oan, các đơn vị liên quan phải có trách nhiệm bồi thường cho những tổn hại về tinh thần và vật chất mà những người này phải chịu.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 10/2017/QH14 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2018 có quy định rất chi tiết về điều này.

Điều 18 Luật này quy định, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có những sai phạm trong hoạt động tố tụng hình sự. Trong đó, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho: Người bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm; Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm…

Quy trình giải quyết bồi thường oan, sai trong tố tụng hình sự

Đầu tiên, người bị oan sai lập một bộ hồ sơ yêu cầu bồi thường gửi đến cơ quan giải quyết bồi thường. Hồ sơ bao gồm: Văn bản yêu cầu bồi thường; Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường; Giấy tờ chứng minh nhân thân của người bị thiệt hại; Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường (nếu có). Trong trường hợp người yêu cầu bồi thường là người thừa kế của người bị oan sai thì phải có thêm: Giấy tờ chứng minh nhân thân của người thừa kế; Văn bản ủy quyền hợp pháp.

Cơ quan giải quyết bồi thường tiếp nhận hồ sơ và xử lý hồ sơ. Trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan giải quyết bồi thường có trách nhiệm yêu cầu người yêu cầu bồi thường bổ sung hồ sơ nếu hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan giải quyết bồi thường phải thụ lý hồ sơ và vào sổ thụ lý. Sau 02 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý hồ sơ, cơ quan giải quyết bồi thường phải cử người giải quyết bồi thường.

Tiếp đó, người giải quyết bồi thường có trách nhiệm thực hiện việc xác minh các thiệt hại được yêu cầu trong hồ sơ. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ, người giải quyết bồi thường phải hoàn thành việc xác minh thiệt hại. Đối với những vụ việc phức tạp, thời hạn xác minh thiệt hại là 30 ngày.

Sau khi hoàn thành báo cáo xác minh thiệt hại, cơ quan giải quyết bồi thường phải tiến hành thương lượng việc bồi thường. Trong 10 ngày kể từ ngày tiến hành thương lượng, việc thương lượng phải được hoàn thành. Với những vụ việc phức tạp, thời hạn thương lượng tối đa là 15 ngày.

Nội dung thương lượng gồm: Các loại thiệt hại được bồi thường; Số tiền bồi thường; Khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có); Phương thức chi trả tiền bồi thường; Các nội dung khác có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu bồi thường.

Ngay sau khi có biên bản kết quả thương lượng, cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định giải quyết bồi thường và trao cho người yêu cầu bồi thường tại buổi thương lượng. Quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày trao cho người yêu cầu bồi thường.

Trên đây là những nội dung về bồi thường oan sai trong tố tụng hình sự mà Luật Loan Loan muốn cung cấp đến quý khách hàng. Nếu còn bất cứ vướng mắc gì về bồi thường oan sai trong tố tụng hình sự đừng ngần ngại, hãy liên hệ với chúng tôi qua hotline mọi thắc mắc, vấn đề của bạn sẽ được tư vấn, giải đáp một cách hiệu quả. Xin chân thành cảm ơn quý khách hàng đã luôn đồng hành cùng Luật Loan Loan!

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775