QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

quyết định thi hành án hình sự

Quyết định thi hành án hình sự được thành lập bao gồm các nội dung chính theo quy định, gửi đến cá nhân và cơ quan liên quan. Bài viết dưới đây, sẽ cho bạn đọc cái nhìn rõ ràng hơn về vấn đề này. 

Quyết định thi hành án hình sự 

Thi hành án hình sự là hoạt động thi hành các bản án, quyết định hình sự của Tòa án về hình phạt tử hình, hình phạt tù, hình phạt tù cho hưởng án treo, hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt quản chế hoặc cấm cư trú, các hình phạt tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, trục xuất, phạt tiền, tịch thu tài sản.

Thực hiện những bản án hình sự và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. 

Một số vấn đề về quyết định thi hành án hình sự của tòa án

Thi hành án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự và có thể coi đó là giai đoạn cuối cùng của một vụ án hình sự.

Công tác điều tra, truy tố và xét xử là rất quan trọng. Quyết định hình phạt của Toà án chính là sự đánh giá, sự lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Nếu chỉ dừng ở mức đánh giá, lên án mà không thực hiện bằng các biện pháp mang tính cưỡng chế đặc trưng của quyền lực nhà nước thì tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa và tính chịu hình phạt hạn chế, thậm chí là không có tác dụng.

Chính vì vậy, pháp luật hình sự đã có những quy định cụ thể về thi hành án hình sự, các ngành tư pháp trung ương nói chung và Toà án nhân dân tối cao nói riêng cũng đã ban hành một số Thông tư liên tịch, Nghị quyết để hướng dẫn một số quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự về thi hành án hình sự nhằm đảm bảo việc thi hành nghiêm túc các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay.

Thẩm quyền của Tòa án trong thi hành án hình sự

Thẩm quyền của tòa án

Cũng có một số quan điểm khác nhau về thẩm quyền của Toà án trong thi hành án hình sự. Có quan điểm cho rằng thi hành án hình sự không phải là một công tác chủ yếu của Toà án mà đó chỉ là những việc liên quan đến Toà án; có quan điểm cho rằng thi hành án hình sự là việc chung của nhiều cơ quan tư pháp chứ không phải của riêng Toà án; có quan điểm cho rằng thi hành án hình sự là một trong những công tác chủ yếu của Toà án.

Thực tế thì các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay cũng không phân định rõ rệt cơ quan tư pháp nào có chức năng “chủ trì” trong thi hành án, do đó mỗi quan điểm trên đều đưa ra những lập luận riêng để bảo vệ quan điểm của mình.

Xét về góc độ thực tiễn thì hiện nay một bản án, quyết định về hình sự có thể do nhiều cơ quan thi hành, nhất là trong trường hợp bản án, quyết định đó có nhiều bị cáo, có nhiều loại hình phạt được áp dụng hoặc có nhiều quyết định về dân sự, về hình phạt bổ sung.

Theo quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây xin viết tắt là BLHS và BLTTHS) thì Toà án có thẩm quyền thực hiện các việc về thi hành án hình sự, đó là:

Ra quyết định thi hành án hình sự hoặc quyết định uỷ thác thi hành án hình sự.

Ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù;

Quyết định giảm thời gian chấp hành hình phạt tù hoặc miễn chấp hành hình phạt tù;

Quyết định việc giảm thời gian thử thách của án treo;

Quyết định xoá án tích hoặc cấp giấy chứng nhận xoá án tích;

Theo dõi việc đưa người bị phạt tù giam vào trại giam để thi hành án hoặc theo dõi việc thi hành án của những người bị kết án mà Toà án đã giao cho chính quyền địa phương nơi người bị kết án cư trú hoặc cơ quan tổ chức nơi người bị kết án làm việc.

Xem xét việc miễn, giảm thi hành án đói với khoản tiền phạt, án phí;

Tổ chức việc thi hành hình phạt tử hình;

Tham gia giúp Hội đồng đặc xá trung ương thực hiện việc đặc xá.

Như vậy, từ khi bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành án cho đến khi bản án, quyết định đó được thi hành xong đều là công việc của Toà án, tức là căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự, Toà án phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc và chính xác nhằm đảm bảo các bản án, quyết định phải đưa ra thi hành được thực hiện nghiêm chỉnh.

Thời hiệu thi hành bản án

Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó, người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.

Thời hiệu thi hành bản án hình sự được quy định như sau:

a. Năm năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ ba năm trở xuống;

b. Mười năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

c. Mười lăm năm đối với các trường hợp xử phạt tù trên mười lăm năm đến ba mươi năm.

Thời hiệu thi hành bản án quy định tại Điều 55 BLHS là thời hiệu thi hành bản án hình sự về quyết định hình phạt.

Đối với các quyết định về bồi thường thiệt hại, án phí và các quyết định khác về tài sản thì việc xác định thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành bản án hình sự tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp người bị kết án lại phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 55 BLHS thì thời hiệu được tính lại kể từ ngày họ phạm tội mới.

Ví dụ: Nguyễn Văn A bị Toà án phúc thẩm phạt 2 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 50/HSPT ngày 10/5/2006 và chưa bị bắt thi hành hình phạt. Ngày 20/3/2007, Nguyễn Văn A phạm tội trộm cắp tài sản. Như vậy, thời hiệu thi hành bản án số 50/HSPT ngày 10/5/2006 là năm năm tính từ ngày 21/3/2007. Thời hiệu thi hành bản án đối với tội trộm cắp tài sản tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật (nếu như bị cáo không tiếp tục phạm tội mới).

Trường hợp trong bản án có tổng hợp hình phạt của nhiều tội thì căn cứ mức hình phạt để tính thời hiệu thi hành bản án hình sự là hình phạt chung của hình phạt chính nặng nhất.

Ví dụ: Bị cáo A bị Toà án phúc thẩm tuyên phạt về ba tội: giết người, cướp giật tài sản và cho vay nặng lãi và xử phạt 15 năm tù về tội giết người, 3 năm tù về tội cướp giật và 20 triệu đồng về tội cho vay nặng lãi. Tổng hợp hình phạt chung là 18 năm tù và 20 triệu đồng. Thời hiệu thi hành bản án này mười năm (điểm b khoản 2 Điều 55 BLHS).

Trường hợp trong bản án có nhiều người bị kết án thì căn cứ vào mức hình phạt đối với từng người cụ thể để tính thời hiệu thi hành bản án hình sự.

quyết định thi hành án hình sự
quyết định thi hành án hình sự

Trong trường hợp bản án có tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, thì căn cứ vào mức hình phạt trong mỗi bản án cụ thể để tính thời hiệu thi hành của từng bản án hình sự cụ thể đó mà không phải căn cứ vào mức tổng hợp hình phạt chung.

Trường hợp người bị kết án cố tình trốn tránh và cơ quan Công an đã cơ quyết định truy nã theo đúng quy định tại Điều 161 BLTTHS, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu thi hành bản án hình sự tính lại kể từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ.

“Cố tình trốn tránh” là cố tình giấu địa chỉ, ẩn náu, thay đổi họ tên, hình dạng… làm cho cơ quan có thẩm quyền thi hành án không biết họ ở đâu hoặc không phát hiện được.

Trường hợp người bị kết án cố tình trốn tránh, nhưng cơ quan công an không ra quyết định truy nã hoặc có ra quyết định truy nã, nhưng không đúng quy định tại Điều 161 BLTTHS (Trừ những việc không thể thực hiện được, như phải dán ảnh kèm theo nhưng không có ảnh), thì thời gian trốn tránh vẫn được tính để xác định thời hiệu thi hành bản án hình sự.

Trường hợp người bị kết án phạt tù được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và khi hết thời hạn được hoãn hoặc tạm đình chỉ mà Chánh án Toà án đã ra các quyết định này không ra quyết định thi hành án theo khoản 2 Điều 261 hoặc điểm b khoản 1 Điều 262 BLTTHS hoặc có ra quyết định thi hành hình phạt tù, nhưng người bị kết án không trốn tránh, thì cũng được hưởng thời hiệu thi hành bản án.

Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính kể từ ngày hết thời hạn hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và căn cứ vào mức hình phạt tù còn lại mà người bị kết án chưa chấp hành.

Khi hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành án khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau:

Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn;

Số tiền phạt còn lại từ trên hai mươi triệu đồng;

Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại.

Khi chưa hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành án khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau:

Là người chưa thành niên khi phạm tội;

Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn;

Số tiền phạt còn lại trên hai triệu đồng

Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.

Khi hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) hoặc người phải thi hành án phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau:

Là người chưa thành niên khi phạm tội;

Số tiền phạt còn lại trên hai triệu đồng;

Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.

Người phải thi hành khoản tiền án phí có giá ngạch trên hai mươi triệu đồng nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền án phí còn lại được giảm thi hành án trong trường hợp đã đủ mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu.

Thủ tục xét miễn, giảm thi hành án

(Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 của TANDTC, VKSNDTC, BTP, BCA, BTC).

a. Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án bao gồm:

Đơn xin miễn, giảm thi hành án của người phải thi hành án; các giấy tờ chứng minh điều kiện được miễn, giảm gửi kèm cùng đơn đề nghị.

Đối với những trường hợp người phải thi hành án đủ điều kiện miễn, giảm thi hành án, nhưng vì già yếu, bệnh tật, không biết chữ thì có thể nhờ người khác thay mặt họ làm đơn xin miễn, giảm thi hành án.

Nếu người phải thi hành án đủ điều kiện miễn, giảm thi hành án nhưng họ là người chưa thành niên, người không có năng lực hành vi thì có thể nhờ người khác hoặc người giám hộ thay mặt để làm đơn xin miễn, giảm thi hành án.

Hồ sơ thi hành án khoản tiền phạt, án phí còn bao gồm: bản sao bản án, quyết định hoặc bản sao trích lục bản án, quyết định của Toà án (có thể dùng bản photo bản án, quyết định của Toà án có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nếu khoản tiền được miễn, giảm được thụ lý, thi hành cùng các khoản khác); các quyết định về thi hành án; chứng từ thu, chi về thi hành án; các biên bản xác minh, điều tra về điều kiện tài sản của người thi hành án, trong đó có biên bản xác minh gần nhất không được quá sáu tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm; các giấy tờ xác nhận điều kiện được xét miễn, giảm.

Văn bản đề nghị xét miễn, giảm thi hành án của Viện trưởng Viện kiểm sát đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 58, khoản 3 Điều 76 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại tiểu mục 3.2 và 3.4 mục 3, tiểu mục 4.2 và 4.4 mục 4 phần I của Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 của TANDTC, VKSNDT, BTP, BCA và Bộ tài chính; văn bản đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đối với các trường hợp còn lại.

Đơn xin miễn, giảm thi hành án được gửi cho cơ quan Thi hành án dân sự đang thụ lý việc thi hành khoản tiền phạt, án phí và phải có các nội dung sau:

Họ và tên, nơi cư trú, làm việc và nơi chấp hành hình phạt tù (nếu có);

Tên cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý việc thi hành khoản tiền phạt án phí;

Số bản án, quyết định, tên Toà án đã ban hành bản án, quyết định; khoản tiền phạt, án phí phải thi hành; khoản tiền phạt, án phí đã được thi hành và khoản tiền phạt, án phí còn phải thi hành; khoản tiền phạt, án phí xin được miễn giảm; lý do xin miễn, giảm;

Đơn xin miễn, giảm phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người phải thi hành án cư trú. Trường hợp người phải thi hành án đang làm việc tại cơ quan, tổ chức thì ngoài xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, còn phải có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc;

Người phải thi hành án đã lập công lớn phải có bản tường trình có xác nhận của cơ quan Công an hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã và bản sao giấy tờ, tài liệu chứng minh về việc lập công lớn.

Người có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng, thì phải có bản sao giấy tờ xác nhận việc khen thưởng.

Người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, kéo dài do thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra, thì phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú; cơ quan nơi người đó làm việc hoặc giám thị trại giam nơi người đó chấp hành hình phạt tù. Trường hợp tai nạn, ốm đau kéo dài phải có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên.

b. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn giảm thi hành án

Cơ quan thi hành án dân sự địa phương, thi hành án cấp quân khu có trách nhiệm thông báo các điều kiện, thời gian xét miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí cho người phải thi hành án có đủ điều kiện để họ làm đơn xin miễn, giảm thi hành án.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn xin miễn giảm thi hành án, chấp hành viên được giao thi hành vụ việc phải kiểm tra và tiến hành xác minh điều kiện về tài sản của người phải thi hành án.

Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà phải thi hành án khoản tiền phạt, án phí, thì ngoài biên bản xác minh về điều kiện thi hành án nơi người đó cư trú hoặc làm việc, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự gửi phiếu đề nghị Giám thị trại giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù xác nhận những vấn đề sau: lập công lớn khi chấp hành hình phạt tù, bị bệnh nặng, tài sản mà họ gửi ở bộ phận lưu ký của Trại giam (nếu có).

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được phiếu yêu cầu, Giám thị trại giam phải kiểm tra, xác nhận và chuyển kết quả cho cơ quan Thi hành án dân sự đã có yêu cầu.

Căn cứ kết quả xác minh, Chấp hành viên báo cáo Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét việc, miễn giảm thi hành án.

Biên bản xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện trong thời hạn không quá ba tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm.

Trường hợp không đủ điều kiện để xét miễn, giảm thi hành án, thì trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự phải có văn bản trả lời, nêu rõ lý do của việc không đề nghị cho người phải thi hành án biết.

Trường hợp xét thấy người phải thi hành án có đủ điều kiện đề nghị xét miễn, giảm thi hành án nhưng không xác định được nơi cư trú của người đó hoặc người phải thi hành án là người nước ngoài không có tài sản và không còn cư trú tại Việt Nam, thì cơ quan Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị miễn, giảm thi hành án kèm theo hồ sơ đối với trường hợp.

Vào tuần đầu tiên của tháng giêng (tháng 1), tháng tư, tháng bảy và tháng mười hàng năm, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chuyển hồ sơ đề nghị miễn, giảm thi hành án cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo văn bản đề nghị Toà án xét miễn, giảm thi hành án.

Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, Viện kiểm sát phải xem xét và chuyển hồ sơ cho Toà án cùng cấp kèm theo văn bản nêu rõ ý kiến của Viện kiểm sát về hồ sơ xin miễn giảm thi hành án và thông báo cho cơ quan Thi hành án dân sự biết.

Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự giải thích những điểm chưa rõ hoặc bổ sung những tài liệu, giấy tờ cần thiết. Trường hợp có căn cứ là người phải thi hành án có điều kiện được xét miễn, giảm thi hành án mà cơ quan thi hành án không lập hồ sơ, Viện kiểm sát chó quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phải lập hồ sơ đề nghị miễn, giảm thi hành án cho người đó.

Người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền khiếu nại việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên lập hồ sơ không đúng hoặc không lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm tiền phạt, án phí, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Việc giải quyết khiếu nại đối với cơ quan Thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Chương VI Luật thi hành án dân sự.

c. Thẩm quyền đề nghị miễn, giảm thi hành án và thẩm quyền của Toà án trong việc xét miễn, giảm thi hành án.

Thẩm quyền của Toà án trong xét miễn, giảm thi hành án

Theo quy định tại Điều 63 Luật thi hành án dân sự thì:

“Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Toà án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) nơi cơ quan Thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở.”

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Toà án phải thụ lý hồ sơ.

Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phải mở phiên họp xét miễn, giảm án phí, tiền phạt (nghĩa vụ thi hành án).

Phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham dự của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan Thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm.

Khi tiến hành xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, đại diện cơ quan Thi hành án trình bày tóm tắt hồ sơ đề nghị miễn, giảm; đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về hồ sơ miễn, giảm. Trên cơ sở xem xét ý kiến của cơ quan Thi hành án, của Viện kiểm sát và căn cứ vào hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm, Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (tiền phạt, án phí).

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (án phí, tiền phạt), Toà án phải gửi quyết định cho người được xét miễn, giảm thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Trại giam, Trại tạm giam nơi người được xét miễn giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí đang chấp hành hình phạt tù.

Thẩm quyền đề nghị xét miễn, giảm tiền phạt, án phí

Theo Điều 62 Luật thi hành án dân sự thì “Cơ quan thi hành án dân sự lập hồ sơ đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án…”.

Luật không quy định rõ Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan cấp nào, nhưng theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 thì Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc trực tiếp đề nghị Toà án cùng cấp xét miễn, giảm thi hành án.

Trường hợp vụ việc do Thi hành án cấp tỉnh thụ lý thi hành thì uỷ thác cho Thi hành án cấp huyện nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc lập hồ sơ đề nghị, thực hiện việc đề nghị và thông báo cho đương sự (người được xét miễn, giảm thi hành án) biết.

Nếu cơ quan thi hành án cấp tỉnh đã tiến hành xác minh điều kiện miễn, giảm thì phải gửi các tài liệu này kèm theo hồ sơ cùng quyết định uỷ thác cho Thi hành án cấp huyện.

d. Kháng nghị quyết định của Toà án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với các khoản thu nộp ngân sách Nhà nước (tiền phạt, án phí).

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, Toà án phải chuyển hồ sơ và văn bản kháng nghị đến Toà án cấp trên trực tiếp.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng nghị, Toà án cấp trên trực tiếp phải mở phiên họp để xét kháng nghị. Phiên họp này do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp.

Trong trường hợp cần thiết Toà án yêu cầu đại diện cơ quan Thi hành án dân sự đã lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm cùng tham dự. Thẩm phán chủ trì phiên họp ra quyết định giải quyết kháng nghị của Viện kiểm sát. Quyết định này có hiệu lực thi hành.

Trường hợp Viện kiểm sát rút kháng nghị trước hoặc trong phiên họp xét kháng nghị thì Toà ra ra quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị và quyết định xét miễn, giảm tiền phạt, án phí của Toà án cấp dưới có hiệu lực thi hành.

Trường hợp sau khi đã có quyết định cho miễn, giảm tiền phạt, án phí (quyết định đã có hiệu lực pháp luật) mà phát hiện được người phải thi hành án đã cất giấu, tẩu tán tài sản, xin được miễn, giảm, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, thì cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát có thẩm quyền đã đề nghị Toà án xét miễn, giảm có trách nhiệm đề nghị Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Trên đây là những thông tin cơ bản mà Luật Loan Loan giải đáp cho Quý khách hàng liên quan đến quyết định thi hành án hình sự.

Nếu Quý khách hàng còn bất cứ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này, chúng tôi luôn sẵn sàng trao đổi, hỗ trợ Quý khách hàng những thông tin cần thiết. Xin vui lòng liên hệ tổng đài để được tư vấn cụ thể.

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0967 741 035
Tư Vấn Online
Gọi: 0967 741 035