TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì. Căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì và làm thế nào để xác định mức bồi thường? Luật Loan Loan xin đưa ra bài tư vấn cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để hỗ trợ cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ xã hội thực hiện tốt nhất quy định của pháp luật. 

Nội dung chính bài viết

Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Xuất phát từ những quy định, những nguyên tắc của pháp luật nói chung và luật dân sự nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có điều kiện sau:

– Có thiệt hại xảy ra.

Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức.

+ Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phí cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu  nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ.

+ Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.

+ Thiệt hại do bị tổn thất về tinh thần. Bộ luật Dân sự quy định: Toà án có thể buộc người xâm hại “bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại, người thân thích gần gũi của nạn nhân”.

Những quy định này chỉ định hướng nhưng chưa có tính định lượng trong việc bồi thường thiệt hại. Bởi vậy, Toà án là người phải xác định trong trường hợp nào được bồi thường, bồi thường bao nhiêu, bồi thường cho ai…

Ví dụ: Thiệt hại về tài sản, biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản. Đây là những thiệt hại vật chất của người bị thiệt hại.

– Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật.

Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức. Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó của chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào “xâm phạm” đến các quyền đó. Bởi vậy, Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm. Việc “xâm phạm” mà gây thiệt hại có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kể cả những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng dân cư…

– Có lỗi của người gây thiệt hại.

Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Xét về hình thức lỗi là thái độ tâm lý của người  có hành vi gây thiệt hại, lỗi được thể hiện dưới dạng cố ý  hay vô ý.
 Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung. Con người phải chịu trách nhiệm khi họ có lỗi, có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bởi vậy, những người không có khả năng nhận thức và làm  chủ được hành vi của mình sẽ không có lỗi trong việc thực hiện các hành vi đó.

Tuy nhiên, có trường hợp người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu do lỗi vô ý  mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ hoặc thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, thì không phải bồi thường.

– Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.

Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên tắc của thiệt hại xảy ra. Điều này được quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự dưới dạng: “Người nào… xâm phạm… mà gây thiệt hại…  thì phải bồi thường”. Ở đây chúng ta có thể thấy hành vi đó.

Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn. Do đó cần phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan  một cách thận trọng, khách quan và toàn diện. Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây thiệt hại.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nguyên tắc của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là tôn trọng thỏa thuận giữa các bên, tức là sau khi xảy ra thiệt hại các bên thỏa thuận với nhau về mức bồi thường; hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc; phương thức bồi thường là một lần hay nhiều lần và theo đó các bên phải thực hiện theo thỏa thuận. Tuy nhiên có nhiều trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc bồi thường, khi đó, việc bồi thường được thực hiện theo nguyên tắc: 

  • Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, có nghĩa là khi có yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của Bộ Luật Dân sự quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản nào và thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu, mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại tương xứng đó.
  • Tòa án phải giải quyết nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định. Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự.

 Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

   Có thể hiểu nguyên tắc trên gồm 2 điều kiện song song với nhau:

  • Không có lỗi hoặc có lỗi vô ý
  • Thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của người gây thiệt hại

   Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường nếu đáp ứng đủ cả hai điều kiện trên. Việc chứng minh thiệt hại là quá lớn so với khả năng kinh tế của người gây thiệt hại cần khách quan, trung thực. Ví dụ: Một bác đạp xích lô với thu nhập hàng tháng khoảng 3 triệu đồng làm hư hỏng chiếc nhẫn kim cương trị giá 2,3 tỷ đồng của khách hàng với lỗi vô ý. Trong trường hợp này bác đạp xích lô có thể được giảm mức bồi thường bởi đáp ứng đủ điều kiện nói trên

Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường

   Trong nhiều trường hợp do sự thay đổi về tình hình kinh tế, sự biến động về giá cả dẫn đến mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, bởi vậy nguyên tắc này đáp ứng nhu cầu của xã hội. Ví dụ: Tại thời điểm hai bên thỏa thuận tài sản bồi thường là 2 lượng vàng, nhưng thời điểm hiện tại giá vàng tăng lên cao hơn rất nhiều so với thời điểm thỏa thuận, làm cho người vi phạm khó lòng bồi thường. Như vậy bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường cho phù hợp. 

Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra

   Thông thường thiệt hại đến đâu bồi thường đến đó, nhưng trong nhiều trường hợp người bị thiệt hại lại là người có lỗi dẫn đến thiệt hại, như vậy luật quy định người bị thiệt hại sẽ không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình. Có thể xảy ra hai trường hợp, một là thiệt hại hoàn toàn do người bị thiệt hại gây ra, như vậy người bị thiệt hại sẽ không nhận được bồi thường. Hai là thiệt hại một phần do người bị thiệt hại gây ra, còn một phần do lỗi của người gây thiệt hại, như vậy người bị thiệt hại vẫn được bồi thường phần thiệt hại không phải do lỗi của mình.

Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình

Trên đây là toàn bộ nội dung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nếu còn bất cứ vướng mắc gì, bạn vui lòng liên hệ tổng đài để được gặp các Luật sư, chuyên viên tư vấn trực tiếp và yêu cầu cung cấp dịch vụ. Luật Loan Loan mong rằng sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp hơn nữa để chúng tôi ngày càng được hoàn thiện hơn!

Trân trọng./.

 

Recommended For You

About the Author:

Hotline: 0967 741 035
Tư Vấn Online
Gọi: 0967 741 035